Đ ể nhớ lại hoặc viết về những kỷ niệm của những ngày tháng trên hành trình vượt biển tìm tự do, tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng đều có ít nhiều kỷ niệm của những thời gian khó quên đó. Riêng tôi đấy là những ngày tháng thần tiên của một quãng đời mình đã đi qua. Nó thần tiên đối với tôi vì mình vừa được thoát chết trên biển cả hiểm nguy để được đặt chân lên bến bờ của một xứ văn minh nhất nhì thế giới. Đó là Nhật Bản. Tàu tôi rời Việt Nam chỉ có hai ngày hai đêm là được vớt bởi tàu Laurita của Norway chuyên chở xe hơi Nhật sang Singapore và Ấn Độ trên hải trình mang tên là Victoria-line. Khi được vớt, chúng tôi chỉ vừa ngang qua vĩ độ 16 nếu nhìn về hướng tây sẽ là thành phố Đà Nẵng mà thôi và đúng là có quí nhân hổ trợ chứ nếu không thì có lẻ cả tàu sẽ được chui vào bụng cá mập cả rồi. Vì khi vượt đại dương với con thuyền mong manh như thế là phó mặt sinh mạng mình cho định mệnh rồi, chứ nào có ai biết chút gì về hàng hải là gì nên khi tàu chúng tôi ra được hải phận quốc tế rồi ( biết thế vì gặp nhiều tàu lớn qua lại gần đường tàu mình đi. Có chiếc mang tên Crystal Cherry của Panama đi gần ghe tôi tạc nước cả vào ghe mà chả them vớt), cứ nhắm theo hướng Bắc mà đi.

   Khi chiều vừa xuống tôi đang ngồi trên bong tàu nghêu ngao hát bảng “Hoa Biển”... “Trăng lên cao muôn hoa sang giăng đầy. Tàu lắc lư làm sao viết tình…” Thì ông Thuyền trưởng đập vào vai tôi và đưa ống nhòm chỉ về hướng đông xa xa… từ từ ống khói của một tàu lớn đang hiện ra . Cố điều tiết mắt nhìn cho thật kỷ thì thấy cột ống khói tàu sơn màu đỏ với một chữ U màu vàng. Thôi thế này tiêu rồi, tàu của Liên Xô rồi ( USSR) nhưng dẫu sao cũng cứ đổi hướng đến gần xem sao. Sau 10 phút chúng tôi đến gần và tàu lớn cũng đã thấy được chúng tôi nên đổi hướng về phía chúng tôi. Tới nơi từ trên cao một người thủy thủ dùng loa phóng thanh cầm tay nói lớn:” Các bạn đang hướng tới tâm bảo, tôi cần gặp thuyền trưỏng hoặc một người đại diện có thể nói tiếng anh. Thế là tôi và thuyền trưởng theo thang lưới dây leo lên tàu. Khi lên bong mới biết hảng tàu là Ugland Auts liner. Tên tàu là Laurita quốt tịch Na-Uy. Giờ này nghĩ lại tôi vẫn còn nghe đâu đây giọng nói ấm áp, hiền hòa của ông thuyền trưởng nói với tôi: “Đây là tàu Laurita của Vương quốc Norway, tôi sẽ vớt các bạn lên tàu, với một điều kiện là nếu không có quốc gia nào nhận thì các bạn phải bằng long đi định cư ở Na-Uy”. Tôi không cần suy nghĩ chi cho mất thì giờ, tôi chỉ vào ông thuyền trưởng của tàu tôi nói Chú Tư cứ ký đi người ta chịu vớt mình rồi đấy. Sau đó các thủy thủ thả thang dây lưới đưa hết số người của tàu tôi lên tàu Laurita.
   Sau khi hoàn tất việc cứu vớt thì trời vừa xẩm tối, trên biển mặt trời lặng rất nhanh. Sóng nước đen ngòm. Tàu lớn cũng bắt đầu lắc lư. Giờ thì mọi người mới thấy sợ nếu không gặp và được vớt lên chắc gì sống sót nổi khi đại dương nổi trận lôi đình như thế này. Thật là may mắn biết bao. Tối hôm vớt lên tàu xong có một em bé được sinh ra. Vớt xong tàu trực chỉ Yokohama- Japan. Tàu lớn thế nhưng tất cả thủy thủ chỉ có 16 người. Giờ phải nhận 160 người nên anh đầu bếp phải làm việc 24/24 để đủ lò nướng bánh mì cho đám tị nạn chúng tôi. Trước khi bước xuống cảng Yokohama. Để giữ thể diện cho tị nạn trước ống kính báo chí truyền hình Nhật, ông thuyền trưởng đã cho order 161 bộ đồ thể thao (jogging) để mọi người đều bước xuống tàu lịch sự đồng phục. Tới đây xin thắp một nén hương lòng khấn nguyện xin đa tạ cùng linh hồn của ông thuyền trưởng Laurita đã quá cố sau cơn bệnh tim. Ơn cứu tử này xin khắc cốt nghi tâm. Tôi nguyện sẽ nói với bạn bè con cháu rằng dù trong tột cùng đau khổ, khó khăn chúng ta cũng nên tin rằng quanh ta luôn luôn có những tâm hồn cao thượng. Sáng hôm sau khi được vớt, ông thuyền trưởng đã cho đánh Telex về office ở Japan và nhờ office ở Japan gởi Telegram của chúng tôi về báo tin bình an của chúng tôi cho gia đình ở Việt Nam. Vì quá nhanh nên khi nhận được tin gia đình tôi vẫn bán tín bán nghi mãi cho đến một tháng sau khi nhận được thư của tôi mới chắc và rỏ sự việc như thế.

   Nói về tị nạn Việt Nam ở Nhật thời 1979-1984, cả khắp nước Nhật có khoảng 30 trại tị nạn lớn nhỏ do Caritas Japan, Red Cross Japan, Thiên lý Giáo Japan chăm sóc. Trại lớn nhất có lẽ là Motobu ở Okinawa, khoãng 300-400 người, khí hậu ấm áp quanh năm, có một người thông dịch là bác Thoma, cựu phi công Thần-Phong rớt máy bay ở Việt-Nam, có vợ Việt, hồi cư Nhật sau 1975. Các trại khác nằm rãi rác ở trên khắp nước Nhật. Trại đầu tiên nhóm tôi được tới là trại Nibuno ở thành phố Himejo, tỉnh Hyogoken, gần thành Kobe Osaka, nơi có trại nuôi bò nỗi tiếng thế giới: 120 dollars/lb. Người ta nuôi bò, cho bò uống bia, ăn cỏ có trộn vitamin, cho bò chạy vòng vòng tập thể dục đều đặn, có máy đấm bóp khi bò đứng nhai cỏ, cho bò nghe nhạc êm dịu nên thịt bò nổi tiếng ngon nhất thế giới là vậy.
Ban đầu chúng tôi đến trại Nibuno, do vị linh mục catholic người Netherland chăm sóc đã vận động các hãng xung quanh cho chúng tôi làm việc. Dân địa phương họ rất lịch sự và quí mến tôi. Khi phái đoàn JVA xuống trại lập hồ sơ phỏng vấn định cư ở đệ tam quốc, tôi tình nguyện điền phụ giấy tờ cho bà con. Anh chàng Kevin Nooman của JVA sau khi trở về Tokyo làm việc cho UNHCR đề nghị tôi làm việc cho họ ở ToKyo. Thế là những ngày thần tiên cuộc đời tỵ nạn của tôi bắt đầu.
   Nghe tôi rời trại Nibuno, Himeji để lên thủ đô Tokyonhận việc, cha Harry Quawater lo ngại cho tôi nơi xứ lạ đông đúc nhưng tôi đâu có gì để mất mát mà sợ nên đáp tàu lữa tốc hành lên Tokyo ngay. Làm việc ở Tokyo gần 4 năm, đi khắp các hải cảng lớn nhỏ để làm thủ tục nhập quốc và tiếp đón cũng như lo hồ sơ định cư cho gần 5000 nguời tị nạn đi định cư khắp các nơi trên thề giới. Nghĩ lại cuộc đời tôi tuy trôi nỗi nhưng là sự trôi nổi của một giấc mơ đẹp, từng lê chân trên khắp các con phố nhỏ của thành phố Tokyo và vùng phụ cận với những đường xe điện ngầm chằng chịt hơn cả ổ nhện, cùng những bạn đồng nghiệp ca hát nghêu ngao trên đường phố khuya lắc khuya lơ nhưng rất an bình vui vẻ, những ngày xuân hôi họp bạn bè, uống rượu Sake dưới gốc những cây hoa đào nở rộ trắng xóa cả một góc trời, ngắm nhìn các cô gái Nhật với bộ Kimono truyền thống ca múa mừng xuân, những lần đi trượt tuyết đầu tiên trong đời té lăn chai như con vụ hoặc kéo nhau cả đám đi tắm OFURO: nhà tắm tập thể trần truồng như nhộng, ngâm người vào bồn nước nóng đỏ cả người thật lạ hoặc kéo nhau đi dự lễ hôi OBON (cúng cô hồn) với những truyền thống lễ hội ca múa sắc phục cổ truyền. Thần thoại và hoang đường như chuyện Từ Thức nhập thiên thai có lẽ là đi tắm ONSEN: suối nước nóng với chung quanh tuyết rơi phủ trắng xoá. Từ những resort xây cất hài hoà với thiên nhiên làm cho mình thoải mái ngâm mình trong suối nước ấm, ngắm nhìn những bông tuyết rơi lả tả qua làng khói nuớc dịu dàng lan tòa mờ mờ ảo ảo để quên đi bao chuyện thế tục trần gian…

   Tokyo cũng là thành phố mà tất cả bạn bè Nhật Việt và UNCHR cùng nhau tổ chức lễ thành hôn của chúng tôi mà người vợ hiền là một cô gái Việt bay từ Mỹ sang Japan để làm đám cuới đã gây ngạc nhiên không ít cho người dân địa phương. Đến nỗi sau đám cưới chúng tôi ra tòa thị chính để làm hôn thú thì ông Thị Trưởng đã xin được khoãng đãi chúng tôi một bữa tiệc rất linh đình để tỏ lòng hiếu khách và đón cô dâu Việt từ Mỹ sang Japan để cứu vớt một tâm hồn tỵ nạn lưu lạc không tương lai như thằng tôi.

   Thế mà đã hơn 20 năm rồi đấy. Có những đêm thức khuya nằm đọc sách quay lại nhìn vợ đang mơ màng giấc điệp tôi muốn nói nhỏ vào tai nàng “Honey, I hope that during last 20 years I did not make you disappointed for the trip to Japan”. “Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa”… còn tôi lên xứ hoa đào nhưng lại mang về một cành hoa Việt, và tôi biết sau hơn 20 năm tôi đã chọn đúng cành hoa tôi yêu.

San Diego Xuân Giáp Thân 2004
Bài này viết tặng Henry Khải Nguyễn, Con trai duy nhất của chúng tôi. Ước mong con luôn luôn được hạnh phúc trong đời sống.