T ôi nhớ hè năm 1978, lớp mình, còn gọi là lớp Y4 đi công tác ở Bình Dương, Xuân Lộc, và sau đó là Tiền Giang. Toán đi Bình Dương lớn hơn toán đi Xuân Lộc. Lớp được chia làm nhiều tổ đi chích ngừa rải rác nhiều khu vực. Tổ tôi, do Vũ thị Minh Hằng và Bùi Văn Ðông (?) “lãnh đạo”, xuống một vùng quê. Tổ đỗ bộ vào một trường tiểu học. Lúc đó là hè, không có học sinh, tụi tôi là vua một cõi.

   Việc đầu tiên là kê các bàn học đâu nhau để làm giường, soạn chỗ làm bếp. Các cô phát hiện ngay quầy kem chuối bên kia đường. Thôi thì nhai kem chuối trước đã rồi tính tiếp. Ðang rai rai kem chuối thì có một bà “cán cuốc” địa phương xuống tham quan xem chổ ăn ở có gì cần điều chỉnh không. Tiện thể bà mời tổ đi xem xử tử hình cướp ở sân vận động gần đó. Trông bà có vẻ “hồ hởi” lắm, tựa như đi xem văn nghệ không bằng. Còn tôi thì ớn chè đậu quá, nổi gai ốc, nhưng phải tỏ vẻ “hăng hái cách mệnh”, từ chối khéo, việc cớ phải xấp xếp công tác cho ngày mai.

   Ngày hôm sau, tổ được chia làm nhiều toán 3 người “tam đầu chế” xuống nhà dân. Toán tôi gồm Trung Thu, Tăng Cảnh Dũng, và dĩ nhiên có tôi. Dũng vóc nhỏ nhưng tiếng lớn, vui, trực tính, nét chử bay bướm, thích ký tên Dzũng hơn là Dũng. Còn Trung Thu thì hơi dàu dàu, tôi đoán chắc vì xa anh Tuấn Quỳnh. Tôi không nhớ tên xã toán tôi đến ở, đã 25 năm rồi còn gì! Tuy vậy hình ảnh dốc đường làng quê, những bụi tre hè, ẩn hiện vách gạch mái tôn còn in rõ trong trí nhớ.
Bà cán cuốc dẫn chúng tôi đến nhà một cô đoàn viên để ở. Từ xa bà đã kêu ơi ới, còn cô thì đang tắm trong nhà tắm “external” Nhà tắm bên hông nhà, gồm 4 cái cột với tấm đệm bao 3 vách hở chân, có thể nhìn thấy đầu, cổ, vai và chân người tắm. Nếu khom người xuống có thể thấy nhiều hơn. Cô đoàn viên đang xối nước ào ào, chào bà cán cuốc và chúng tôi một cách tự nhiên. Xong cô quấn khăn, mặc quần áo, và dẫn chúng tôi vào nhà. Chúng tôi chào cha cô, xếp ba lô vào góc, cẩn thận bảo quản mấy hủ thuốc chích ngừa trong hộp mốp bằng vài cục nước đá. Buổi cơm chiều Trung Thu mượn bếp nấu cơm, cũi ẩm khói bay cay xè. Ở đây không có TV, chẳng có điện, thiên hạ đi ngủ sớm. Ðêm đó tôi và Tăng Cảnh Dũng ngủ chung trên một cái sạp nhỏ xíu, một thằng trở mình thì thằng kia cũng phải lăn theo. Còn Trung Thu thì ngủ với cô “đòn diên” ắt hẳn chiếc giường cũng không đủ cho hai người. Nhà cạnh chuồng bò, đêm nghe bò đái rào rào, hết con nầy tới con khác, lại thêm mùi phân bò nồng nặc, không ngủ được! Ðúng là một đêm trăn trở.

   Sáng hôm sau Trung Thu mắt đỏ hoe, xin về với Minh Hằng. Tôi đồng ý vì cái nhà tắm outdoor đó có vẻ không phù hợp với chị lắm, nhất là người chị lại cao. Thế là toán tôi còn lại hai thằng nam sinh viên, gây bất tiện cho cô đoàn viên. May thay, ông trưởng ban an ninh xã nhận tụi tôi về nhà ở. Nhà ông lớn, mái ngói, cột cây, mát. Hai đứa tôi được ngủ trên một divan lớn gỗ láng, hơi ê mình nhưng không nghe tiếng bò đái và lăn trở tự nhiên. Thiếu đầu bếp Trung Thu, tôi và Dũng thay phiên nhau nấu cơm. Dũng rành nấu hơn tôi nhiều nên nhiều khi tôi để Dũng “tự giác” nấu. Còn đồ ăn thì hai đứa đều đem theo đồ khô, nên bà chủ nhà đôi lúc cho một món canh. Tôi thì quẫy một lon Guigoz thịt kho mặn để có chút “chất đạm”, còn Dũng thì xách một bịt tương hột to tướng, rắc đậu phọng rang vào ăn. Dũng mời tôi ăn món tương của anh, lúc đầu tôi có hơi chê vì món ăn đó không “cao cấp” lắm. Nhưng tôi lầm! Trong tương anh có pha thịt, ăn với đậu phong rang rất bắt, thiệt là “đạm thống soái!”

   Ông trưởng ban an ninh có danh sách tất cả các hộ trong xã nên công tác tụi tôi dễ dàng hơn. Chúng tôi đi từng nhà chích ngừa bằng mấy cái kim chích nấu đi nấu lại. Không biết dịch hạch, dịch tả được ngăn ngừa bao nhiêu, nhưng chắc chắn sinh viên Y4 và toàn ngành y tế “giải phóng” đã góp phần tăng tỉ lệ nhiễm viêm gan siêu vi cho dân Việt nam lên mức báo động.

   Tuy có danh sách tên tuổi và địa chỉ, việc chích ngừa không phải dễ dàng. Hai đứa tôi đi đến đâu, thiên hạ trốn đến đó. Người ta viện cớ đi làm đồng, đi ra chợ, thuỷ lợi, nghĩa vụ, vân vân. Ông trưởng ban an ninh bắt vợ con trong nhà chích ngừa hết, trừ ông ra, viện cớ ông có thể bị nóng sốt, ảnh hưởng tới công tác an ninh. “Ðồng chấy” Trần Ngọc Sinh có xuống kiểm tra toán tôi, kết luận công tác không khả quan lắm, nhưng tha vì “tình hình cụ thể địa phương”

   Chúng tôi đi ngang một trường học nhỏ, nghe tiếng học trò ê a. Ngạc nhiên vì đây là lúc nghĩ hè, sao lại có học trò? Tôi và Dũng vào hỏi mới biết cô giáo trẻ muốn dạy thêm hè miễn phí, mà phụ huynh cũng thích vì có baby sitter không tốn tiền. Mấy đứa nhỏ tới trường quơ bậy bạ cũng được vài ba chữ mà không chạy rông. Tôi liền ra kế hoạch chích ngừa ngày hôm sau cho học trò, không cần ký giấy consent gì hết. Cô ưng thuận.

   Ngày hôm sau chúng tôi khệ nệ bưng đồ nghề chích ngừa đến trong khi cô đang dạy. Lũ trẻ thấy tụi tôi đến liền ré lên, bỏ lớp chạy tứ tung. Mặc cho cô giáo kêu réo, trong phút chốc lớp học vắng như chùa bà đanh. Thấy tụi tôi thiểu não, tội nghiệp cô mời về nhà chơi. Nhà cô chỉ có hai mẹ con, nhưng có đất trồng đậu phọng và một vườn cây ăn trái nhỏ, chủ yếu là cây ổi. Tôi thích ổi xá lỵ, còn ổi ở đây là ổi sẻ. Tôi gốc dân Bến Tre Quê Hương Ðồng Khổ, gọi thứ ổi ấy là ổi hườm vì nó có màu hồng ở giữa khi chín. Ổi hườm thua ổi xá lỵ, nhưng nó thơm hơn và làm jelly thì tuyệt. Bà mẹ cô giáo rất lanh (cô hiền và không lanh bằng), giải thích sở dĩ có tên ổi sẻ là vì chim sẻ thích ăn ổi đó lắm. Bà kể chuyện lúc năm 75, bộ đội vô nhà bà đóng quân, lúc ra bà mất cái đầu máy may. Bà đoan chắc một anh đã cầm nhầm khi ra đi. Bà vô tận rừng nơi bộ chỉ huy để kiện, bị truy hỏi gắt gao. Cuối cùng tay chỉ huy bộ đội bảo bà về, bà bảo bà sẽ khiếu nại tận “trung ương”. Ngày hôm sau, cái đầu máy may được hoàn về cố chủ. Sau câu chuyện “hình sự”, cô giáo bưng lên một nồi đậu phọng nấu còn nóng hổi, và chúng tôi ăn ngon lành. (Bạn thấy hồi ức nầy tôi nói về ăn hơi nhiều vì bạn hẳn còn nhớ năm 78, 79 chúng ta có nạn đói, ăn bo bo là may, nhiều người ở quê phải đi đào cũ chuối để ăn).

   Ngày cuối cùng của công tác, tôi được lệnh phải ở cho tới chiều mới về tổ tập trung cho xe đò chở vô thị trấn Bình Dương. Tôi và Dũng thu xếp ba lô, chào gia đình ông trưởng ban An Ninh, ra đi khoảng 5- 6 giờ chiều. Ðường từ xã về điểm tâp trung độ mươi cây số, hai đứa cuốc bộ trên con đường đất đỏ phẳng và thẳng tắp, không một bóng người. Lúc ra đi trời còn sáng, nhưng rồi sụp tối rất nhanh, chỉ còn thấy viền chân trời hơi ẩn màu xanh đen. Rồi không gian như chìm xuống, thời gian như ngừng lại, ngoài tiếng chân bước chúng tôi chỉ là tiếng chó sủa văng vẳng trong sâu hai vệ đường. Hai đứa lầm lủi trên con đường đất, chân đưa tới mà không biết rơi vào đâu, chỉ an tâm khi chạm được mặt đất mềm. Nếu có một cái gò hay một ổ gà thì chỉ có nước té dập mặt. Lúc đó tôi ước có một cái đèn pin, nhưng đó là điều xa xỉ vì đào đâu ra pin để xài.

   Cuối cùng hai đứa lần theo đốm đèn điện ra tới được đường cái. Tiếng còi xe in ỏi thúc giục tôi và Dũng lên xe. Về tới thị trấn, ngủ trên sàn gạch bông trường học, tôi thấy hạnh phúc vô cùng vì sắp được về nhà. Tay lục chiếc ba lô tìm trái ổi để ngửi (cô giáo tặng tôi đem về nhà trồng) thì đã lạc mất. Trái ổi ở lại đất Bình Dương cùng cô giáo nhỏ mà tôi không mong gì trở lại nữa.