Chín Cương & Tám Cần

Ba mươi năm trước, tôi cùng bạn.
Cũng một con đường, đôi nẻo đi!
             #


   Thỉnh thoảng tôi vẫn thường hay đùa với vợ rằng, ''Anh Trỗi lấy vợ được một thời gian mới vào tù, mình hơn anh ấy ở điểm cưới vừa xong là cả hai đứa cùng vào tù ngay!'' Chúng tôi đi ở tù vì mộng ước giống như nhiều người ở cái thời bấy giờ. Ai cũng có thể ở tù khi tìm cách vượt biên nhưng không may mắn thoát được và bị bắt.

   Chúng tôi vào tù một cách rất ngây thơ của tuổi đôi mươi mới lớn, chưa biết cuộc đời bể dâu xanh ngát một màu. Ngồi trong hàng rào của cái Khám Lớn Rạch Giá rồi mà vẫn còn chưa sống với thực tại! Nhìn vào trong một phòng giam mà vẫn không nghĩ đấy là nơi mình sẽ sống trong những ngày sắp đến. Ôi! Người đâu mà nhiều thế nếu có thể gọi đấy là sinh vật con người. Người nào người nấy trông như những cái xác từ các Vùng Kinh Tế Mới chạy về Sài Gòn, hay những tay chích choác mà tôi thấy gần các gầm cầu đây đó trong thành phố. Giữa phòng nằm lù lù anh thanh niên chẳng còn một đốm da lành vì ghẻ lở. Tệ hại nhất là thằng bé với hai con mắt lộ tròn, trông chẳng khác nào bộ xương bọc da, mỗi chuyển động kéo lê theo tiếng dây xích khua trên mặt sàn bê-tông. Chổ ở của bọn tù mặt mới như tôi là góc phòng, nơi đặt mấy cái thùng sắt tròn cho toàn thể tù đi đại tiện, luôn lấp xấp lủng bủng nước tràn ra từ mấy cái tỉnh nước mắm đựng nước tiểu. Sức nóng của không khí nhốt kín hòa lẫn mùi phân thối sau những ngày có thăm nuôi, cùng mùi mồ hôi của hàng trăm con người đủ mọi thành phần trong xã hội, tạo thành một thứ mùi không thể nào tả được. Mùi khai thối thật ra chẳng có gì là kinh khủng trong cái phòng giam nhung nhúc đủ loại tù ấy, từ hình sự đến chính trị, vượt biên, và cả đến kẻ không có tên trong danh sách tù. Tôi vẫn nhớ hình dáng anh tù cụt một chân, tội chống chính quyền đương thời, miệng nghêu ngao, ''Đi thăm chồng, bồng con theo làm chi em ơi! Rừng U Minh, muỗi nó cắn chết con cha rồi! Bồng con về đi em...'' Người ta có còn sợ gì khi đã có án tử hình! Qua cửa sổ, phía bên kia là dãy F, phòng kỷ luật giam cá nhân chỉ vừa vặn cho một người nằm co chân và lom khom đứng. May thay, tôi chỉ phải ở trong cái hộp cá nhét tù ấy một thời gian rất ngắn, nơi con người sống ích kỷ tự nhiên và hồn nhiên, cá lớn nhai cá bé, lạnh lùng để sống còn.

   Hơn một tuần sau, được thả ra ngoài trời, lao động để xây dựng một nhà tù khác lớn hơn. Đấy là công đầu tôi đóng góp cho nhà nước mới thời tuổi trẻ lúc bấy giờ. Trong cái nhà tù ngoài trời này, tôi được dịp biết cây so đủa, ăn lá so đủa, hoa so đủa, chuột đồng, và nhiều món sơn hào hải vị chưa từng được thưởng thức ở nhà. Nơi đây, mỗi ngày và mỗi con người là những chương sách mới của cuộc đời rộng mở. Anh Ba Thái, một phạm cán người Bắc, nghe đâu nguyên là trưởng đồn công an biên phòng thị xã, tội danh ăn tiền cho người vượt biên, đại diện cho tù, già, nhanh nhẩu và tình cảm. Dược sĩ Đạo, người địa phương phạm pháp, nhận xét rất tinh tế, tù lâu ngày. Một đêm, cả bọn tù được ngồi trên bờ đê ngoài trời để xem truyền hình, trên màn ảnh ca sĩ là bác sĩ TMK đang hát, ''Từ thành phố này người đã ra đi...'' Đạo ngồi cạnh chỉ vào anh TMK, một anh bạn tù mới vào, khai làm nghề bậy bạ gì đó, chậm rãi nói nhỏ: Trông giống ảnh ghê há! Anh Nguyễn Công Chức, tội danh phản động hiện hành, người từ tốn, hiền lành, cõng tôi ra vào để làm vệ sinh cá nhân trong ba ngày đêm bị còng ngược hai tay vào hai cổ chân, người đã dạy tôi tháo còng ban đêm để có thể nằm ngủ ngon, dễ và nhanh. Hôm tiễn tôi được thả về, anh như nhắn lời vĩnh biệt khi mừng tôi sắp đoàn tụ cùng gia đình. Mong anh vẫn còn sống đâu đó hôm nay, hít thở hương thơm tự do của đất trời như ước vọng anh muốn mang lại cho người khác. Nam, cái anh chàng Nam kỳ rặc, mập bủng trắng so với bọn tù ốm đói đen thủi đen thui, cả ngày ỉ ôi một bài vọng cổ duy nhất, ''Tết này con không về...'' Thằng bé người Miên, ốm nhong và cao lêu khêu, mang tội nhập biên bất hợp pháp, tôi có chuyện trò vài lần gần dãy nhà xí. Nhìn thằng bé mà thương chính thân mình! Một anh già tóc điểm bạc ba hoa chích chòe học cao, nghe đâu là bác sĩ ngoài đời thường, đầy tật xấu của lễ nghĩa liêm sĩ mà tôi chẳng còn nhớ tên. Học vấn, tuổi tác chẳng định giá trị con người! Tôi ngủ chung một màn với anh bác sĩ NHT, không thành thật khai báo là người vá xe đạp lề đường. Tôi cũng chẳng phải là thứ thành thật gì khi khai là tên bán quần áo chợ trời. Ai lại mặc áo cà sa với bọn ma quỉ bao giờ! Nhớ cái vị ngọt lịm ngập răng của thẻ đường vàng mà anh NHT chia cho hôm hai anh em cùng xuống khoán một ghe tràm. Cũng chính ''nhờ'' anh mà tôi biết được mùi còng số 8 khi đã có giấy tha. Luật nhà tù là không được thư từ liên lạc gì bên ngoài, anh lại cứ cất giữ thư vợ gửi lén vào qua thức ăn tiếp tế. Hôm được thả, tôi lại xách hộ anh cái giỏ đựng những lá thư tẩm nước hoa chết người ấy! Điều trớ trêu nhất của bọn tù vượt biên là đi làm việc ở miếu ông Địa, phải chứng kiến cảnh người ta lũ lượt vượt biên bán chính thức do nhà nước bắt tay với bọn đầu nậu buôn người cùng tổ chức để lấy vàng, tiền hô hậu ủng, công an đứng chào, vẫy tay từ biệt công khai giữa ban ngày. Sau này về lại Sài Gòn, được biết có đứa chung lớp đã ra đi từ nơi này vào đúng thời gian tôi đẩy xe kút kít tải đá xanh tại đây. Đấy là những ngày tháng giêng ''giải phóng'' Kampuchia. Cái áo xanh màu dưa cải từ thời di cư của bố đưa mặc khi ra đi đã rách tưa nát dọc mặt lưng, tôi trở về nhà vào đúng đêm 30 Tết. Gõ cửa nhà thì pháo giao thừa nổ rền quanh phố. Tết năm ấy, Lệ Thu cũng hát bài ''Từ thành phố này'' trên sân khấu ngoài trời ở góc đường Nguyễn Văn Giai sau nhà. Nghe bài hát, tôi biết mình chỉ còn một mục đích trước mặt, xa bay cao chạy sao cho thoát khỏi chốn này. Bố cho đăng ký như người Hoa ở Long An cùng gia đình anh bạn tù ngủ chung màn cũng chẳng xong. Nhà nước đóng cửa khẩu khoảng tháng sáu sau những đợt đẩy Hoa kiều ra khỏi nước để vơ vét lấy tài sản. Vợ tôi có cái tên giả là Lâm Nữ, tôi tên gì thì quên mất rồi. Đi không được, anh NHT ngồi rang đậu phọng và bán ve chai trông chừng con, tôi lần ra cái chợ trời buôn sĩ thuốc tây góc đường Lê Thánh Tôn, mối lấy hàng từ một cô bạn học Dược đi vượt biên trước giao lại. Thời gian ấy, những chương sách nhân nghĩa trí tín, xử thế của vỉa hè thật là cảm động và vẹn toàn gấp mấy lần nơi học đường sách vở. Những con người ở cái chợ đời góc thư viện sống thật chí nghĩa, có trước có sau, tình cảm thực trong cái xã hội đầy giả dối chung quanh. Lần vượt biên lậu ở Cần Giờ sau đó, tôi tình cờ đi chung với một thằng bên Y khoa học chung năm ở gần xóm ĐaKao. Tôi nhìn nó mà cười thầm vì hình như nó thuộc loại 30 đít đỏ cầu chứng tại tòa hay những con tương cận gì gì đó ở trong trường, hóa ra nghề nói là nghề của chàng. Khát khao bay nhảy của con người, cuối cùng chúng tôi cũng trốn ra khỏi nước bằng đường bộ.

   Chứng nổi mề đay biến mất ngay khi đến trại ven rừng. Bom đạn của xâu xé quyền lực, xác người trong tranh giành ảnh hưởng, đủ loại phe cánh, từ búp bê Hun Sen, ông hoàng không rõ ràng Sihanouk, Lonnol thời cáp duồn, Khờ Me Đỏ Pol Pot, và các ông tướng... cướp khác của xứ chùa tháp. Những người da trắng thiện nguyện quên cả thân mình đến từ mọi góc trên thế giới. Bác sĩ Solange của Gia Nã Đại ở trại bên kia biên giới trong những ngày mưa dầm. Cô Dennis của Thụy Sĩ, cái phao của tỵ nạn người Việt nơi núi rừng Miên Thái. Kyle Coble của Fredericksburg, Virginia, Hoa Kỳ, anh bạn chân tình... Mười mấy trại lớn nhỏ ở năm quốc gia khác nhau là những chương mới khác. Con người của thú tính man dã và con người của nhân tính tràn đầy sống lồng vào nhau trong cái chốn cùng khổ cuộc đời ấy. Cuộc sống ở trại tỵ nạn miền biển Nam Dương trôi qua nhanh như đi nghĩ hè. Cuộc sống ở đất mới trôi nhanh không tưởng so với những ngày dài lê thê, lết thết trong tù. Mười năm sau, anh bạn tù ngủ chung màn mới thoát ra được bến bờ của hương thơm đất trời. Tôi gọi anh chúc mừng khi anh đến California cùng gia đình. Anh hỏi ngay rằng tôi có còn nhớ Chín Cường và Tám Cần? Hai tay công an trưởng và phó trại tù đã hành hạ tôi suốt ba ngày cuối ở tù. Anh bạn tù nhắc lại làm nhớ mãi đến giờ hai cái tên ấy! Tôi phải gọi anh hôm sau, phàn nàn về điều này. Không biết mình chẳng muốn nhớ hay đã tha thứ nên quên bẵng mất tên của hai tay công an cai ngục này!

   Có người bạn cùng lớp gửi cho tôi một chánh bản của bản báo cáo lên phòng học vụ trường về việc theo dõi một người bạn khác trong lớp. Những chứng từ lịch sử! Những chương sách của cuộc đổi đời ngày cũ trở về. Thời ấy, có anh chị sinh viên làm phụ việc của mật vụ, tay sai chỉ điểm. Có người vì manh áo miếng cơm, có kẻ thì đạp lưng nhau mà tiến thân, có người vì hoang tưởng thiên đường, có kẻ tinh ma miệng lưỡi, người tưởng rằng có thể muối mặt mình mà cứu gia đình, kẻ thì thấy thắng theo đuôi... Tôi đọc chứng từ có thật của một thời, họ tên các nhân vật còn rành rành. Thời của lương tri thử thách, thời của xảo trá dối lường, thời của lưỡi không xương, thời của sâu bọ con người, thời của tâm náo loạn, thời của trí bất bình, thời của cuồng điên phẩn nộ, thời bỏ nhân tính cứu lấy thân mình, ngắm nhìn múa rối hí trường mà ''thương''. Bố thì thường nhắc đến một thời xa hơn nữa, Nguyễn Hữu Loan của ''Nàng có ba người anh đi bộ đội...'' bỏ làm báo về Thanh Hóa thồ xe đập đá mà sống, Phùng Quán của ''Dù ai có đem dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu...'' Tôi không phải sống thời ấy, nhưng chắc rằng chẳng khác thời mình bỏ sân bóng chuyền, bè bạn, góc phố, vào chổ tử tìm nẻo sinh.

   Tôi nhớ đến câu chuyện hậu chiến tranh ở Iraq đăng trên tờ Washington Post, một gia đình tìm được cái băng thu thanh và bản báo cáo tại trụ sở cảnh sát thời trước, một người quen gia đình đã vì 100 đô la tiền thưởng mà thu băng hại bạn khi Hussein còn tại vị, báo cáo rằng bạn mình không tin ông trùm này lắm, anh bạn đang học luật được cho đi mò tôm trong một đêm ở thành Bá Đa xứ ngàn lẽ một đêm. Con chết, gia đình không biết ai là thủ phạm, nay thì mới rõ đấy là người vẫn lui tới hàng ngày trong nhà. Ông bố đem cuộn băng ấy cho phát thanh ở đầu làng để cả làng biết được bộ mặt tên phản bè, giết bạn. Tin trên cùng tờ báo mấy hôm sau, ông bác sĩ Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc, nguyên trưởng khu giải phẫu tại bệnh viện gần quảng trường Thiên An Môn, nay 70, ở cái tuổi xưa đà hiếm, viết thư xin nhà nước xét lại tội danh của các sinh viên đấu tranh năm xưa. Ông phải đợi 15 năm sau mới viết thư này vì nghĩ rằng bọn học trò nhỏ chỉ muốn đòi hỏi xã hội đẹp hơn thôi! Thế mà trong câu kết, ông vẫn cho biết sẵn sàng chờ người ta đến hỏi tội mình! Đọc lá thư dài mấy trang báo của ông, tôi chẳng thấy ông có tội gì ngoài việc nói lên điều mình nghĩ trong đầu. Phải chăng đấy là khác biệt mà tôi được hưởng bây giờ. Điều mà ngay cả thằng con học tiểu học đã hiểu, và hạch bố sao không ''raise your voice, speak your mind'' khi hỏi lý do sao bố nó đã bỏ quê nhà, phố cũ, bè bạn mà đi.

   Tôi đọc lại bản báo cáo gần 30 năm về trước mấy bận, thấy chẳng cần phải đăng lên làm gì! Tôi biết anh bạn nạn nhân buổi giao thời đồng lứa cũng chẳng trách. Nói như người bản xứ, tha thứ nhưng không quên! Chuyện những điều trông thấy là chuyện thực dù có đau đớn lòng hay không. Tôi có dối trá, bịa đặt ra để làm tình làm tội ai đâu, thưa anh Chín Cường và chị Tám Cần! Chỉ mong anh chị biết rằng ''very ugly tiger'' tiếng Việt là xấu hổ lắm! Chỉ mong con cháu và bạn bè đồng lứa chẳng phải sống qua những thời như ông bà hay bố mẹ chúng đã phải sống. Chỉ mong thế giới này ngày một tươi đẹp hơn thêm.

Virginia, tháng Tư năm 2004

           #