T ôi tỉnh hẵn khi người tiếp đải viên hàng không yêu cầu du khách sữa lại chỗ ngồi và cài nịt dây an toàn vì phi cơ sắp đáp xuống phi cảng Tân-Sơn-Nhất trong vòng 10 phút.... Cảm giác mệt mỏi sau nhiều giờ bay nhường chỗ cho những ưu tư, háo hứt tràn ngập... "Sàigòn bây giờ tự do lắm rồi... Sàigòn bây giờ thay đổi nhiều lắm rồi, tưởng chừng không nhận ra được nữa..." ... Đã 23 năm rồi chứ đâu ít gì, tôi tự nói với mình, - 1/4 đời người, dù với bao thăng trầm thì cũng đã trôi qua. Đã 23 năm rồi tôi mới quyết định trở lại nơi này, một lần cũng được - để làm một chuyến hành hương, để rữa sạch những ưu tư mơ tưởng chồng chất bao ngày... Cái quê hương khốn khổ nhưng đầy huyền thoại anh hùng này vẫn là những ray rức mỗi khi tôi nghĩ về ...   

   Trước mặt tôi, 2 cô tiếp đải viên đã dọn dẹp xong, đang đứng thẳng người rồi cúi rạp mình chào trong một dáng điệu rất đặc biệt của hàng không Đại-Hàn… Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ người con gái Việt-Nam này vì bãng tên nằm ngay trước ngực - độ tuổi con gái tôi thôi, ít phấn son nhưng đẹp tự nhiên, lạ lùng. Tôi tự nói với mình: đây mới chính là Vietnamese thứ thiệt, made in Viet-Nam!. Nhưng một anh chàng Đại-Hàn, ngồi trước tôi một hàng ghế, đầu cắt ngắn như võ sĩ thì cứ nhìn chằm chặp khiến cô phát ngượng quay đi. Về sau, lúc vào Việt-Nam, tôi còn nghe thấy những mẫu chuyện thật đời người con gái Việt-Nam qua những tay chơi Á Châu mà không khỏi xót xa…    Qua khung cửa nhỏ, tôi cố nhìn xuống để thử xem cái thành phố mà đã có lần được gọi là “Hòn ngọc Viễn Đông” giờ như thế nào nhưng chỉ thấy một vài lập lòe trong bóng đêm cho đến khi phi cơ đáp xuống phi đạo. Kiễm soát giấy tờ lại một lần chót, tôi tinh nghịch rút lại $5 trong passport của riêng tôi trong khi vẫn ghép và nộp chung 2 cái passport của tôi và vợ. Không biết có phải vì thế không nhưng gã nhân viên quan thuế để cho vợ tôi qua một cách dễ dàng trong khi gắt gỏng hỏi thêm tôi một vài câu vớ vẫn mới chịu thôi. Những nơi tôi đã từng đi qua, Canada, Mỹ, Âu Châu, nhân viên quan thuế nghiêm nghị nhưng vẫn chào hỏi đàng hoàng. Trung Đông, Ai Cập không khí khủng bố, chết chóc… nhưng ở đây, chính ngay trên quê hương mình tôi lại cảm thấy vẽ hằn học, hăm dọa ? Cổng ra có 2 chữ mới: Luồng xanh, luồng đỏ? ...Tôi chọn luồng xanh dù có mang về một cái máy computer cũ để tặng người bạn làm quà. Đường từ phi trường về thành phố hai bên đã lấp đầy nhà nên không còn vẽ trống trải như ngày xưa nữa.

   Như đã dự định, trong khi chờ vé máy bay để đi Huế chúng tôi đảo nhanh một vòng xuống Mỷ-Tho cho cô em thăm nhà chồng luôn tiện ghé thăm Cồn Tiên, Cồn Phụng, nơi tu dưỡng trước đây của ông Đạo Dừa và ngồi thuyền qua lại dòng sông Tiền Giang màu mở của xứ sở. Không ngoài tiên liệu về những nguy hiễm của cách lái xe vô kỷ luật như ở đây, chúng tôi chứng kiến tai nạn chết người ngay. Hai bên đường, những mẫu ruộng lúa đang được lấp đá để xây nhà hiện đại… Trở về Sàigòn vào buổi chiều mưa, nước cống dâng lên cả nữa bánh xe ở vùng Phú-Lâm nhưng người dân ở đây vẫn lội nước đi lại như thường?!    Sàigòn tháng 7 mưa ngâu. Buổi chiều mưa và giấc ngũ muộn, hai vợ chồng mò xuống Tân-Định. Bà xã đòi tìm cho được trường cũ Les Laurriers. Ngồi ăn bánh Xèo Đinh Công Tráng với vài người bạn cũ, bên ngoài trời mưa bay bay qua nền trời đen, con đường hẽm nhầy nhụa… Một thoáng bàng hoàng về trong đáy cốc: đã 30 năm!

* * *

   Chuyến máy bay 2 động cơ chong chóng từ Sàigòn ra Huế chỉ mất khoãng 1 giờ mà tôi vẫn thấy rất là lâu. Từ sau ngày đậu xong Tú Tài phần II năm 1971 rồi vào đại học ở Sàigòn, đây là lần đầu tôi trở lại đất thần kinh này. Xe qua khỏi chợ An-Cựu là tôi bắt đầu nhận ra được dáng cũ của thành phố vì hầu như những hình ảnh này vẫn ngự trị trong trí nhớ của tôi mỗi đêm khó ngũ ở Sàigòn cũng như ở Hoa Kỳ. Tôi bảo tài xế chạy ngược đường Lê Lợi, từ nhà ga xe lữa dọc xuống cầu Trường Tiền, qua khỏi trường đại học Luật Khoa. Dừng lại ở trường Quốc-Học, tôi có chụp 1 tấm hình lưu niệm nhưng không vào. Sân trường vắng hoe vì bây giờ là mùa hè. Kiến trúc vẫn không thay đổi, vẫn cổng tam quan, - từ đường ngoài vào bên phải là phòng giáo vụ, bên trái là nơi niêm yết danh sách các thí sinh trúng tuyển mà năm nào học sinh cũng chồng lên nhau để coi kết quả…    Cách một block đường vẫn là trường Nữ Trung Học Đồng Khánh (tôi quên hỏi bây giờ là tên gì), người tình muôn thuở của các anh Quốc-Học vẫn còn đó, im lìm trong nắng quái chiều hôm như thầm trách người đi không hẹn ngày trở lại… Đằng kia, nơi góc đường phân chia 2 trường là trạm xe buýt mà mặc dù được lệnh bãi học trước 15 phút trước để tránh nạn ứ đọng lưu thông, các cô Đồng Khánh vẫn chờ … Dọc 2 bên đường vẫn còn những hàng phượng vĩ đỏ ối, nơi mà có lần nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cảm hứng làm bài Mưa Hồng…

    “…cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ…”     - Không! tôi chưa bao giờ hững hờ - hay cố tình hững hờ. Ngược lại, cuộc đời đã trừng phạt tôi bằng một trái tim thiết tha mà bằng chứng là năm tháng đi qua để lại nhiều vết thương khó chữa…

   Xe qua hữu ngạn sông Hương, đổ vào Trần Hưng Đạo. Về phía bên trái, tôi cố tìm những dấu vết … nơi nào là nhà sách Ưng-Hạ? - cái tên mà anh tôi thường ký trong các sách vỡ của ông vì gồm 2 chử Ưng (yêu, muốn) và Hạ (tên của một người con gái). Đâu là nhà sách Tuổi Hoa(?) – nơi dù không có ý, tôi vẫn còn nợ một mối tình mà giờ chỉ còn biết gởi lời xin lỗi.

   Xe vào Gia Hội - những gì của 30 năm trước vẫn còn đó – có thể còn tệ hơn vì thiếu sữa chửa.. Ngôi nhà Từ Đường của bên ngoại, sau lưng chùa Diệu-Đế, 3 gian 2 chái, nơi xuất thân của 3 thế hệ nhân tài trong dòng họ ngoại dù đã được xây lại sau những trận bảo lụt tàn phá vẫn không che dấu được nét thê lương của ngôi vườn không ai săn sóc. Những tàng cây gìa, những bức tường cũ, đổ nát dưới bom đạn từ thời Mậu-Thân vẫn còn đó vì nghe đâu người ta còn có ý biến khu này thành một khu phố cổ như phố cổ Hội-An… Một thoáng bàng hoàng tôi chợt nhớ lại mấy câu thơ của một thi-nhạc sĩ không còn biết tên….

   Đi qua thành phố phai màu
    Bước chân xiêu vẹo nghe sầu vọng âm
    Lời em trên mắt âm thầm
   Khua chân phố nhỏ giọt đầm đìa tuôn…


Đảo nhanh một vòng xuống bãi biển Thuận-An, nơi đây, tôi vẫn còn nhớ vào một đêm đầy trăng sao của tháng Mười(?) năm 1971, tôi và một người bạn nằm nghe băng nhỏ Cassette, Christopher Parkening chơi nhạc cổ điển Tây Ban Cầm với bài “Romance d’amour” và thao thức về tương lai của tuổi trẻ sau Tú Tài Toàn… Đó là đêm cuối cùng tôi ngũ với Phước trên bãi biển. Thuở ấy, cả 2 chúng tôi cùng yêu thiết tha một cô bé học sinh trường Jeanne D’arc mà sao tình bạn vẫn không sức mẻ. Ngày hôm sau Phước vào Sàigon để đi du học ở Belgique mà mãi hơn 20 năm sau tôi mới tìm lại được hắn ở Nancy, Pháp. Còn tôi – một thời gian sau cũng chạy theo để tìm lại kỷ niệm ….
Trở về khách sạn trong nỗi mệt nhoài, tôi quyết định hủy bỏ tham dự một tiệc cưới trên sông Hương mà ba anh Dương Quang Tuấn đã mời nhiều lần nhân lúc gặp ở phi trường Tân Sơn Nhất. Có một việc quan trọng cần làm ngày mai và đó cũng là lý do chính hôm nay tôi trở về…

* * *

   Tôi đi vòng quanh ngôi mộ đá
   Nghe vang buồn từng nỗi ăn năng…

Đã 33 năm, sau 2 lần dời mộ, có lẻ dưới kia ba tôi cũng chẳng còn gì. Tôi muốn tỏ lòng biết ơn với người đã xây ngôi mộ này nhưng người em họ tại địa phương cho biết Bác cũng đã qua đời từ vài năm trước, không còn thân nhân. Theo lời dặn dò của người anh thứ hai không đi theo trong chuyến này, tôi đọc bài thơ phúng điếu mà Bác đã tặng ba tôi khi mộ làm xong… Gió thổi vi vu qua những đồi thông của núi Ngự Bình như thầm bảo tôi là đừng buồn nữa vì với thời gian, cái gì rồi cũng phai mờ…
   Cho xe chạy vào Thành Nội, tôi tìm được căn nhà của một người bạn cũ ở đường Lê-văn-Hưu…. Bên kia đường là hồ Tịnh-Tâm. Giữa hồ có một cái đình nghĩ mát, là nơi hò hẹn của tôi 32 năm về trước. Mái đình sập xuống nhưng không ai tu sữa. Hồ sen nay biến thành hồ rau muống…

   Trên đường trở ra, đi ngang qua cửa Đại-Nội tôi thấy một vài du khách đang lãng vãng để vào tham quan cung điện vua chúa ngày xưa. Quang cảnh sạch sẽ và đưọc tu bổ, hơn hẵn những chổ khác của thường dân. Về sau tôi mới hiểu, trong mục tiêu đánh vào du khách và phát triển kỷ nghệ du lịch, những nơi có thể kiếm ra tiền như thế mới được săn sóc kỹ!

   Tôi dành gần trọn một ngày để đi ngược dòng sông Hương như đã dự định, qua chùa Thiên Mụ, đến điện Hòn Chén… Không hiểu là nên biết ơn hay oán trách cái dòng sông định mệnh này. Thật là lạ lùng, trong đời người có một kẻ thù - vì nó làm ta đau khổ - mà hầu như ai trong chúng ta cũng nâng nui, vuốt ve đó là kỷ niệm! Tôi rời Huế sớm hơn một ngày, trong cảm giác của một kẻ trốn chạy. 30 năm trước tôi cũng đã trốn chạy như thế này. Ngày xưa mới bị thương nên vết cắt nào cũng quá đau. Bây giờ bị thương nhiều rồi nên không muốn đau thêm nữa thôi….     Đến Đà-Nẵng tôi lên cơn sốt cao suốt một ngày, bỏ cả dự tính viếng thăm một người bạn cũ ở bán đảo Sơn-Trà và luôn tiện ghé thăm bãi biển Mỹ -Khê!

* * *



   Khu phố cổ Hội-An làm tôi xúc động nhưng không ngạc nhiên vì không mấy thay đổi. Tôi tìm lại căn nhà xưa, 32 Nguyễn Thái Học dễ dàng. Vùng tôi ở đã biến thành trung tâm du lich mà những nhà cữa cũ đã và đang được sữa lại để triễn lãm, làm tiền du khách. Mùa hè gay gắt ở đây đã làm cạn khúc sông chảy qua Chùa Cầu. Khúc sông bên kia, làng Cẩm Kim là nơi chúng tôi thường tắm. Đó cũng là nơi chúng tôi (chắc không phải là tôi vì còn quá nhỏ) đã bỏ rơi một con chó Berge’ to vì không nuôi nổi. Con chó này là của con ông Trưỡng Ty Thể-Dục & Thể-Thao Hội-An, bạn của anh tôi cho. Khoãng tuần sau nó lội qua sông trở về đứng trước nhà với một vết thương lở loét ở mông. Tôi cầu nguyện trí nhớ của mìng là đúng – như anh tôi đã trã lại cho nguyên chủ. Ôm làm chi những gì mình không kham nỗi để gây khổ cho người, cho mình…    Đường ra biển Cửa-Đại xe chạy một cái vèo là đến ngay. Năm xưa chúng tôi thường đi biển bằng xe đạp vì chỉ cách nhà khoãng 5 cây số. Trên đường về, nếu có tiền thì sẽ ráng ghé một quán ăn bên đường để kêu một tô mì Quãng, một đặc sản dù chỉ là một loại “tôm kho đánh” không lột vỏ tưới lên trên một nắm mì vàng và rau sống….
Hội-An là kỷ niệm của những “trời hành cơn lụt mỗi năm”…Đó cũng là nơi tôi bắt đầu biết xúc động với ngừơi khác phái dù thật chưa biết yêu là gì – ngưòi con gái đã dành cho tôi nhiều cảm tình chỉ bằng ánh mắt, bạn học cùng lớp, và cũng là con bà chủ tiệm bán thuốc Tây cho tôi thuê truyện tàu Kim-Dung không cần tiền cọc. Sau 3 năm ở Hội-An, năm 1966, gia đình tôi di cư trở lại Huế. Tôi thật tình không thể nhớ mình có nói lời từ gĩa hay không nữa! Tôi quên Mai dễ dàng!...Tôi chỉ gặp lại Mai một lần và cũng là lần cuối cùng năm 1972 khi tôi từ trong Tổng Bưu Điện Sàigòn bưóc ra cùng lúc Mai sắp sửa rời bải đậu xe trên chiếc Honda PC với bộ đồ màu vàng nên rất “nổi”. Dï nhiên Mai không hề biết là tôi đã nhận ra và đang nhìn nàng. Nhưng tôi chỉ đứng nhìn theo cho đến khi bóng Mai mất hẵn sau những tàng cây của đường Tự-Do… Một thoáng xúc động với những kỷ niệm cũ quá khờ khạo, quá êm đềm, thế thôi. Thuở ấy tôi đã tìm lại được người tôi yêu và đã chiếm được trái tim nàng. Sóng gió đã qua và tôi rất hạnh phúc.

* * *

   Phi trường Nội-Bài hiện đại, - chắc là còn hơn cả phi trường Tân Sơn Nhất… Nhưng mục đích chính ra Bắc lần này là để xem cho được cái “Hà-Nội 36 phố phường” và kỳ quan thứ 7 của nhân loại: “Vịnh Hạ-Long”. Thật là trời cho!. Cái khung cảnh thiên nhiên này cọng thêm những kỷ thuật tổ chức du lịch giỏi thì chắc chắn sẽ biến nơi này thành một trong những trung tâm du lịch, tham quan nhất nhì thế giới. Trong chiến tranh, những hang động này chắc chắn là những nơi trú ẩn lý tưởng của Thủy Quân và nếu bị tàn phá thì thật là một tổn thất của nhân loại… Có một trung tâm du lịch nỗi tiếng thế giới là Acapulco. Nơi này giờ đây chỉ còn là nơi tham quan của du khách vì tất cả các sản phẩm của “kỷ nghệ du lịch” không lối thoát đều đổ ra bờ biển của vùng này. Tôi không nghe ai quan tâm về điều này cho Vinh Hạ-Long, Nha-Trang, Dốc-Lết, Vũng-Tàu, Phú Quốc. Vịnh Hạ-Long cũng có “Bãi Tư”, một danh từ tôi mới nghe được sau này - là nơi cho thuê dài hạn một phần bãi biển cho các công ty ngoại quốc đầu tư, - vì người bản xứ không đủ sức làm ăn hay là làm như thế thì có lợi hơn?. Mới nghe tôi cũng cảm thấy là lạ không tin, nhất là trong một quốc gia mà lúc nào cũng tự hào chủ quyền dân tộc...
Trong buổi cơm trưa trên thuyền, tôi được nghe tận tai mình những cảm xúc của người dân Bắc thứ thiệt(?). Từ chối không theo các bạn trốn qua Tây Âu khi bức tường Bá Linh sụp đổ, người thiếu phụ trẻ, vừa là hướng đạo viên vừa là nhiếp ảnh viên cho chuyến đi Vịnh đã không cầm được nước mắt khi nói về tương lai của gia đình mình - nhất là chuyện học hành của người con mà theo bà thì những phí tổn là quá nặng, và dù có cố gắng chịu đựng thì cũng không mua nỗi 1 quan chức khi ra trường… Vì là du lịch nên tiêu pha của chúng tôi có phần rộng rãi, nhưng bữa cơm trên thuyền là bữa ăn mà “cả đời em không bao giờ mơ có được…” dù rằng cô nhất quyết từ chối không dùng cơm chung với chúng tôi…

“36 phố phường” chỉ còn là quá khứ với những khu phố tạp hóa chật hẹp. Nhưng “Hồ Tây mùa thu”, buổi chiều và những cặp tình nhân hẹn hò thì thật là đẹp. Từ chùa Trấn Quốc đi ra tôi vẫn còn nghe tiếng kinh đuổi theo một khoãng bờ hồ. Ngôi chùa này có một thời đã là một tranh chấp văn hoá, theo đó, người ta đã cố gắng vận động để thay thế tên của nó vào trong 2 câu thơ trứ danh của miền thần kinh…

   Gió đưa cành trúc la đà
   Tiếng chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ-Xương…

Nếu cùng lúc vừa nghe được tiếng chuông chùa Trấn-Quốc ở miền Bắc, vừa nghe được tiếng gà gáy ở làng Thọ-Xương dưới chân chùa Thiên-Mụ ở miền Trung thì những người này thiệt là phải có Thông Thiên Nhĩ…

   Ngày cuối cùng ở Hà-Nôi, tôi để cho anh tài xế đưa đi khắp nơi cho biết. Không hiểu vô tình hay cố ý, anh chỉ cho chúng tôi những khách sạn lớn trong thành phố mà tên tuổi gắn liền với những nhân vật tai to mặt lớn hay có liên hệ bà con với những nhân vật này… Cũng không lạ gì mấy, ngày xưa chúng tôi gọi đó là “con ông cháu cha” …

* * *

   Phi cơ đáp xuống phi trường Nha-Trang vào khoãng 11 giờ sáng nhưng nhân viên phi trường đã chờ chúng tôi bước ra để đóng cửa ngay. “Nha-Trang là miền quê hương cát trắng” này đã làm phái đoàn 6 người của chúng tôi ai cũng đều có cái cảm giác nhẹ nhàng hơn những ngày vừa qua.
   Có 2 nơi tôi phải viếng thăm trong chuyến trở về Việt-Nam lần này là Huế và Tuy-Hoà. Là một nhân viên bất trị, ba tôi được lệnh phải rời Huế và trình diện cơ quan Tuy-Hoà trong 24 giờ. Chuyến xe lữa rời ga Huế vào một buổi hoàng hôn trong tiếng khóc của anh Kha, một người con nuôi của me tôi nhưng phải ở lại với cha mẹ ruột…”Me ơi me! cho con đi với!…” Xe lữa bị trật đường rầy nhưng không lật đến Tuy-Hoà cũng vào một buổi hoàng hôn trong đời của một đứa trẻ bắt đầu hiểu xa quê hương là gì. Trong trí nhớ của nó về một thời đã quá xa xăm, Tuy-Hoà trở thành huyền thoại của những đêm gió hú trên nóc nhà tồn mỗi năm tháng Mười khi gió đỗi mùa - của những buổi chiều bươm bướm bay về ngũ cả đàn trước vườn - của những mùa châu chấu to bằng ngón tay cái về phá cây trứng cá trước sân …. từ dưới này nhìn lên có khi tôi thấy cả đàn khỉ đu dây trên núi Nhạn?     Mẹ tôi thường đón xe lữa đưa anh em chúng tôi vào bãi biển Đại-Lãnh cuối tuần. Chúng tôi chơi, ngũ trong vi vút của ngàn thông, đập trái bàng khô để lấy hột ăn, rồi khi chiều xuống lững thững ra đón xe lữa để về lại Tuy-Hoà. Mỗi buổi sáng, anh em chúng tôi đều phải đứng chờ cho đến khi đồng hồ reo ren lên mới nắm tay nhau đến trường. Trưòng Đặng Đức Tuấn, hình như là trường của cha dòng, cái tên giờ cũng không còn nữa. Tuy-Hoà là nơi tôi adopt một con chó tên là KiKi từ lúc mới đẻ sau một bức tường đổ. Nó cũng theo chúng tôi về lại Đà-Nẵng rồi sau đó vào Hội-An. Nó chết già âm thầm dưới chiếc gường tre, không rên la đau đớn có lẽ để cám ơn những ngày tháng anh em chúng tôi đã tận tình nuôi dưỡng.

Tuy-Hoà đã được xây lại với những đường phố rộng rãi, nhà cửa khang trang… Bãi biển Đại Lãnh vẫn còn đó. Tôi mơ màng nhận diện rừng thông và những cây bàng vì khung cảnh đã bị thay đổi bởi những chòi tranh, và những kios bán hàng phục vụ cho du khách. Bên kia đường, về phía núi Trường Sơn cũng còn một trạm ga xe lữa nhưng không giống như trong trí nhớ của một đứa trẻ 5 tuổi nữa. Không còn một dấu vết nào để chứng minh cho cái ký ức của tôi. Dĩ vãng đã chết sạch để lại trong tôi nhiều nỗi bàng hoàng khi xe đã qua khỏi đèo Rù-Rì trên đường trở lại Nha-Trang. Tôi bỏ chuyến lên Đà Lạt vì thật ra tôi không có lưu luyến gì ở nơi này từ ngày xưa cả. Tại phi trường tình cờ gặp gia đình chị Hoàng Anh cũng đang ở trên đường về lại Sàigòn.

* * *

   Tôi xuống Vũng-Tàu 1 ngày cho xong những thắc mắt trong suốt 30 năm qua. 3 ngày cuối ở Saìgòn, ban ngày lang thang thành phố, ban đêm lêu bêu phòng trà. Con đường Duy-Tân, công viên “con rùa”… Tiệm bánh Xèo nổi tiếng “A Phủ” thật ra nằm rất gần nhà vợ tôi trên đường 3 tháng 2…    Tôi có xuống Hàng Xanh để tìm lại căn nhà mình ở ngày xưa. Cũng không khó khăn gì. Ngay cả nưóc sơn, tấm màng cuốn bằng gỗ ở trên lầu, cánh cửa sắc đã rĩ rét vẫn còn đó… Ai nói Sàigòn đã thay đổi không còn nhận ra nữa?

   Mười năm đầu sau chiến tranh, với chính sách bế môn tỏa cản để cũng cố chế độ, Việt-Nam, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc đã trở thành một trong 10 nước nghèo đói nhất thế giới. Rồi sau những tiếp liệu hơn 2 tỷ đô la một năm của thân nhân ở hải ngoại và viện trợ nhân đạo ào ạt đổ vào, nước này trở thành một trong 10 nước có tốc độ phát triễn nhanh nhất thế giới?. Tiêu chuẩn của một anh lái xe thồ (1 vợ và 1 con) ở Sàigòn mà tôi có dịp nói chuyện trước khách sạn tôi ngụ là 50 ngàn đồng Việt-Nam (hơn 3 đô la Mỹ) một ngày. Có đêm ở phòng trà tôi thấy các cậu choi choi mà chắc chắn là tiền phải có từ cha mẹ kêu rượu hàng trăm đô la (bạc triệu Việt-Nam). Tệ nạn tham nhũng “có dù” đã phân hóa cùng cực đời sống người dân lành mà tại sao ở đó vẫn còn có người khoe khoang rằng họ vừa về từ Phi Châu để dạy cho các quốc gia này cách quản trị hành chánh và phát triển kỷ nghệ?...     Phong trào học Luật? - Rất nhiều bạn bè, bà con xa gần tôi gặp đưa tôi danh thiếp tốt nghiệp trường Luật nhưng hành nghề quảng cáo du lịch và bán bảo hiểm nhân thọ…

Tôi đi qua trường Y Khoa 2 lần nhưng rồi không vào. Thật là lạ, ở Mỹ mỗi lần gặp được bạn bè Y Nha ngày xưa là tôi rất vui mừng, cố tình mời mọc để ăn nhậu chung vui. Đi chơi đâu xa cũng ráng gọi nhau thử xem có trùng ngày nghĩ hay không. Biết bao công sức đã đỗ ra để đóng góp cho ngày hội ngộ năm 2001, vậy mà đứng ngay trước cổng tôi không có cái cảm giác là trường của mình. Cũng có thể ngôi trường xưa chỉ có ý nghĩa khi có thầy giáo cũ, bạn bè xưa. Một bức trang có ý nghĩa, làm lòng ta rung động khi có hồn. Lòng không có thì cảnh cũng không có nghĩa gì. Nhớ ngày xưa học bài Dị Ứng - Mẫn Cảm với thầy Vũ Quí Đài, mở đầu ông trêu chọc: “ Có khi dị ứng không cần phải có sự đụng chạm trực tiếp. Chẳng hạn một anh kia nhìn chị nọ mặc chiếc áo len bỗng dưng nỗi ngứa...” Không chừng tôi bị dị ứng với nước sơn mới của trường này rồi!...     Buổi chiều cuối cùng tôi cứ bồn chồn đi lên xuống khách sạn, báo hại người trẻ tuổi gác cổng mở cửa ra mở cửa vào… Anh thương hại nhìn tôi: “Chà, đi chơi cũng bồn chồn mà sắp về lại nhà cũng bồn chồn há!” Tôi cười buồn và đáp lại: “Xin anh đừng làm như thế nữa, tự tôi làm được rồi. Ở Mỹ tôi làm nghề mở cửa cho khách, về đây có người mở cửa cho tôi, tôi thấy khó chịu lắm…”

   Cũng nhân dịp kỷ niệm sinh nhật đám cưới năm thứ 25 của một cặp bạn từ Pháp về, bạn bè họp mặt ăn uống một lần nữa buổi tối trưóc khi tôi lên thẳng phi trường từ nhà hàng. Đây là lần họp mặt bạn bè đông nhất từ ngày tôi về thăm quê hương chuyến này. Tôi lắng lòng để nghe nhiều hơn nói. Có lần vợ tôi buộc miệng hỏi một người bạn gái: Tại sao mình thấy ở đây “chị em ta” nhiều quá vậy thì cô trả lời bình thản: “Cái đó còn tùy, ở đây còn có rất nhiều người chấp nhận cuộc đời đạm bạc nên không cần phải làm nghề đó”. Trên những khuôn mặt và những đôi mắt buồn xa xăm, tôi biết họ đã chấp nhận cuộc đời… Sau chiến tranh, người dân miền Nam có vẽ trở nên trầm lặng và lo kiếm sống thực tế hơn? Những bất mãn thành tiếng tôi nghe nhiều hơn là từ người dân miền Bắc. Gần đây, tôi còn nghe người ta dùng cả giá trị nhân bản nữa, để biện minh rằng chiến thắng nên dành cho người miền Bắc bởi vì nếu không thì sự trả thù của người miền Nam còn đẩm máu hơn nhiều!... Cũng trong đám người này, tôi lại trở thành một trong những “khúc ruột ngàn dặm” của quê hương…Tôi không thể hiểu được cái “logic” này, nhưng những sĩ nhục nhân bản và phân hóa như thế sẽ tiếp tục ngăn cản những vết thương không thể lành được trên quê hương này dù đã 30 năm qua…

   Phi cơ đã cất cánh mà lòng tôi thì cứ ở đâu đâu. Chuyến đi ban đầu dự định là 1 chuyến hành hương để giải tỏa những khúc mắc trong đời. Giờ đây kỷ niệm cũ chưa chịu cho qua mà những vấn vương mới càng làm tôi thêm ray rức. Qua bóng đêm nhạc nhoà, tôi thoáng nghe có tiếng nhạc đâu đây của ngày xưa…    Lagrima, phải rồi, Lagrima! - một giọt nước mắt, tôi thầm nhỏ xuống cho ba tôi, cho bạn bè, cho những gì tôi đành để lại trên cái quê hương khốn khổ nhưng đầy huyền thoại này.

Tháng 7, 2002